Khai thác giá trị tín ngưỡng, tôn giáo – tạo động lực phát triển du lịch

22/04/2026 16:15:23

Lượt xem: 24

Z

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các điểm đến du lịch trên thế giới, nhiều quốc gia đã chuyển hướng sang khai thác các nguồn lực văn hóa bản địa nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh đặc thù. Trong hệ thống các nguồn lực văn hóa đó, tín ngưỡng và tôn giáo giữ vị trí đặc biệt quan trọng bởi đây không chỉ là biểu hiện của đời sống tâm linh mà còn là kết tinh của lịch sử, bản sắc văn hóa và truyền thống cộng đồng... Tín ngưỡng và tôn giáo ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch.

Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử. Ảnh: Thế Phi

Tính đa dạng và đặc sắc

Thực tiễn phát triển du lịch thế giới cho thấy nhiều quốc gia đã thành công trong việc chuyển hóa các giá trị tín ngưỡng, tôn giáo thành sản phẩm du lịch đặc sắc, thu hút hàng triệu lượt du khách mỗi năm. Những trung tâm hành hương nổi tiếng như Vatican (Italia), Mecca (Saudi Arabia), Jerusalem (Israel và Palestine) hay các quần thể di sản tôn giáo nổi tiếng như Borobudur (Indonesia) và Angkor Wat (Campuchia) đã trở thành những biểu tượng du lịch mang tầm quốc tế. Những mô hình này cho thấy tín ngưỡng và tôn giáo, nếu được quản lý và khai thác hợp lý, có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển du lịch và kinh tế địa phương.

Ở Việt Nam, đời sống tín ngưỡng và tôn giáo rất phong phú, phản ánh đặc trưng văn hóa lâu đời của dân tộc. Hàng chục nghìn cơ sở thờ tự, hàng nghìn lễ hội truyền thống cùng nhiều di sản văn hóa gắn với tín ngưỡng và tôn giáo đang tồn tại và phát triển trên khắp cả nước. Tuy nhiên, việc khai thác các giá trị này trong phát triển du lịch vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu phát huy mạnh mẽ sức mạnh văn hóa dân tộc, việc nhìn nhận tín ngưỡng và tôn giáo như một nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch trở nên đặc biệt cần thiết. Điều này cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế và du lịch bền vững.

Chùa Đồng - Yên Tử. Ảnh: TITC

Trong khoa học xã hội và nhân văn, tín ngưỡng và tôn giáo được xem là những hình thức phản ánh đời sống tâm linh của con người trước thế giới tự nhiên và xã hội. Tín ngưỡng được hiểu là hệ thống các niềm tin mang tính dân gian, hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thể hiện sự tôn kính đối với các lực lượng siêu nhiên, tổ tiên hoặc những nhân vật có công với đất nước và cộng đồng. Tín ngưỡng thường gắn với phong tục, tập quán, lễ hội và các nghi lễ truyền thống, trở thành một phần quan trọng của đời sống văn hóa cộng đồng. Trong khi đó, tôn giáo là hệ thống niềm tin có tổ chức, có giáo lý, giáo luật và cơ cấu tổ chức rõ ràng. Tôn giáo thường có hệ thống triết lý, đạo đức và nghi lễ chặt chẽ, được truyền bá rộng rãi và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội. Ở Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo. Bên cạnh đó là hệ thống tín ngưỡng dân gian phong phú như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Thành hoàng làng,…

Mặc dù có nhiều điểm tương đồng, tín ngưỡng và tôn giáo vẫn có những khác biệt cơ bản. Trước hết, về tính tổ chức, tín ngưỡng thường mang tính tự phát, gắn với cộng đồng làng xã và truyền thống văn hóa địa phương. Trong khi đó, tôn giáo có hệ thống tổ chức chặt chẽ với giáo hội, chức sắc, giáo luật và các quy định rõ ràng. Thứ hai, về hệ thống giáo lý, tín ngưỡng chủ yếu dựa trên truyền thống, phong tục và niềm tin dân gian, không có hệ thống giáo lý chặt chẽ như các tôn giáo lớn. Ngược lại, tôn giáo thường có hệ thống giáo lý, triết lý và chuẩn mực đạo đức được xác lập rõ ràng. Thứ ba, về phạm vi ảnh hưởng, tín ngưỡng thường tồn tại trong phạm vi cộng đồng hoặc khu vực, còn tôn giáo có thể lan rộng trên phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống văn hóa Việt Nam, ranh giới giữa tín ngưỡng và tôn giáo không phải lúc nào cũng hoàn toàn tách biệt mà thường có sự giao thoa, bổ sung lẫn nhau, tạo nên tính đa dạng và đặc sắc của văn hóa tâm linh dân tộc.

Toà thánh Tây Ninh. Ảnh: Truyền Phương/TITC

Nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch

Trong đời sống kinh tế - xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo có vai trò rất quan trọng. Trước hết, đây là yếu tố góp phần củng cố bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc, mỹ thuật và lễ hội truyền thống được bảo tồn thông qua các hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo. Các công trình kiến trúc tôn giáo như chùa, đền, đình, phủ, miếu, nhà thờ, thánh thất không chỉ có giá trị tâm linh mà còn là những di sản văn hóa - nghệ thuật có giá trị cao. Bên cạnh đó, tín ngưỡng và tôn giáo còn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng các giá trị đạo đức xã hội, góp phần xây dựng lối sống nhân văn, hướng thiện, đoàn kết và trách nhiệm trong cộng đồng. Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, tín ngưỡng và tôn giáo ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch. Trên thế giới, du lịch tôn giáo và du lịch hành hương đã trở thành một trong những phân khúc phát triển nhanh, thu hút hàng trăm triệu lượt khách mỗi năm. Ở Việt Nam, nhiều điểm đến gắn với tín ngưỡng và tôn giáo đã trở thành trung tâm du lịch tâm linh nổi tiếng, thu hút đông đảo du khách như Đền Hùng (Phú Thọ), Chùa Hương (Hà Nội), Yên Tử (Bắc Giang-Hải Phòng-Quảng Ninh), Phủ Dầy (Ninh Bình), La Vang (Quảng Trị), Núi Bà Đen (Tây Ninh), Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang)… Những điểm đến này không chỉ có ý nghĩa tâm linh mà còn đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế và du lịch của các địa phương.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã khai thác hiệu quả giá trị tín ngưỡng và tôn giáo để phát triển du lịch. Tại Italy, trung tâm hành hương Vatican là một trong những điểm đến du lịch tôn giáo lớn nhất thế giới, mỗi năm đón hàng chục triệu du khách và tín đồ hành hương. Ở Trung Đông, thành phố linh thiêng Mecca của Saudi Arabia là nơi diễn ra cuộc hành hương Hajj là một trong những sự kiện tôn giáo lớn nhất thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, Indonesia đã xây dựng thành công thương hiệu du lịch văn hóa - tôn giáo gắn với quần thể Borobudur, trong khi Cambodia khai thác giá trị di sản của Angkor Wat để phát triển du lịch quy mô lớn, trở thành điểm đến nổi tiếng toàn cầu. Những kinh nghiệm này cho thấy để phát triển du lịch tôn giáo thành công cần kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản và xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù.

Thúc đẩy phát triển du lịch bền vững

Đối với Việt Nam, trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới, ngành Du lịch đang đứng trước nhiều cơ hội lớn trong việc khai thác các giá trị tín ngưỡng và tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Trước hết là việc quy hoạch và quản lý các khu du lịch tâm linh ở nhiều nơi còn thiếu đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch. Một số địa phương còn có xu hướng phát triển du lịch tâm linh theo hướng xây dựng công trình quy mô lớn nhưng thiếu chiều sâu văn hóa. Bên cạnh đó, tình trạng thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, mê tín dị đoan và quá tải du khách trong mùa lễ hội vẫn diễn ra ở một số điểm đến. Ngoài ra, sản phẩm du lịch tâm linh của Việt Nam còn đơn điệu, chủ yếu tập trung vào hoạt động tham quan và lễ bái, chưa phát triển mạnh các sản phẩm trải nghiệm văn hóa, thiền định, nghiên cứu tôn giáo hoặc du lịch học thuật. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cần có cách tiếp cận mới trong quản lý và khai thác giá trị tín ngưỡng, tôn giáo gắn với phát triển du lịch bền vững.

Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc khai thác các giá trị tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ phát triển du lịch cần được đặt trong khuôn khổ thể chế và chính sách pháp luật phù hợp với điều kiện mới. Thực tiễn cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành, đã tạo nền tảng quan trọng cho việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, nhất là khi tín ngưỡng và tôn giáo ngày càng gắn chặt với các hoạt động văn hóa - du lịch, một số nội dung chính sách và pháp luật cần tiếp tục được rà soát, bổ sung và hoàn thiện nhằm vừa phát huy giá trị văn hóa - tâm linh, vừa ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực như lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi hoặc thương mại hóa đời sống tâm linh.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, bảo tồn và khai thác các không gian tín ngưỡng, tôn giáo gắn với di sản văn hóa. Trên thực tế, nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời cũng là di tích lịch sử - văn hóa hoặc điểm đến du lịch quan trọng. Do đó, cần có sự thống nhất giữa các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật về du lịch, đặc biệt là Luật Du lịch 2017 và Luật Di sản văn hóa 2024. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ sẽ giúp xác định rõ trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương và tổ chức tôn giáo trong bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa - tâm linh phục vụ phát triển du lịch.

Thứ hai, cần bổ sung các quy định cụ thể về quy hoạch và quản lý phát triển du lịch tâm linh. Trong thời gian qua, một số địa phương đã phát triển các khu du lịch tâm linh quy mô lớn, tuy nhiên việc quy hoạch đôi khi chưa gắn kết chặt chẽ với bảo tồn giá trị văn hóa và cảnh quan tự nhiên. Vì vậy, cần có quy định rõ ràng về tiêu chí phát triển các khu du lịch gắn với tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn giá trị thiêng liêng của không gian tín ngưỡng với yêu cầu phát triển du lịch bền vững. Việc quy hoạch cần chú trọng yếu tố lịch sử, văn hóa, cảnh quan và sức chứa du khách, tránh tình trạng xây dựng tràn lan, phá vỡ không gian văn hóa truyền thống.

Thứ ba, cần tăng cường các quy định nhằm kiểm soát và ngăn chặn tình trạng thương mại hóa, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi. Thực tiễn cho thấy ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng tổ chức các hoạt động mang tính mê tín dị đoan, thu phí trái quy định, buôn bán dịch vụ tâm linh hoặc biến các lễ hội truyền thống thành hoạt động mang tính thương mại quá mức. Vì vậy, cần bổ sung các quy định pháp luật và chế tài xử lý đủ mạnh đối với các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước. Điều này không chỉ nhằm bảo vệ sự trong sáng của đời sống tâm linh mà còn góp phần xây dựng môi trường du lịch văn minh, lành mạnh.

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam - An Giang. Ảnh: TITC

Thứ tư, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, tổ chức tôn giáo và cộng đồng trong quản lý và khai thác các giá trị tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ phát triển du lịch. Trong nhiều trường hợp, các tổ chức tôn giáo và cộng đồng địa phương là chủ thể trực tiếp bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa tâm linh. Do đó, chính sách pháp luật cần tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo và cộng đồng tham gia tích cực vào quá trình bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản, đồng thời bảo đảm các hoạt động du lịch diễn ra phù hợp với truyền thống và giáo lý của từng tôn giáo.

Thứ năm, cần chú trọng các quy định liên quan đến công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức xã hội về giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo. Việc khai thác các giá trị tâm linh phục vụ du lịch không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn liên quan đến bản sắc văn hóa và đời sống tinh thần của cộng đồng. Do đó, các chính sách pháp luật cần khuyến khích việc giáo dục, phổ biến kiến thức về văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo cho cán bộ quản lý, doanh nghiệp du lịch và du khách. Điều này sẽ giúp nâng cao ý thức tôn trọng không gian tâm linh, hạn chế các hành vi phản cảm hoặc thiếu hiểu biết trong quá trình tham quan, hành hương.

Cuối cùng, trong bối cảnh triển khai các chủ trương lớn về phát triển văn hóa của đất nước, đặc biệt là định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, việc hoàn thiện chính sách và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần được đặt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn. Mục tiêu không chỉ là bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân mà còn phát huy những giá trị nhân văn, đạo đức và văn hóa tốt đẹp của các truyền thống tâm linh dân tộc. Khi được quản lý hiệu quả và phát huy đúng hướng, các giá trị tín ngưỡng và tôn giáo sẽ trở thành nguồn lực quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa và xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh trong xã hội.

Có thể khẳng định rằng tín ngưỡng và tôn giáo không chỉ là thành tố quan trọng của đời sống tinh thần mà còn là nguồn lực văn hóa có giá trị to lớn đối với phát triển du lịch. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy nếu được khai thác một cách khoa học và bền vững, các giá trị này có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo tồn di sản và nâng cao vị thế quốc gia. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh triển khai các chủ trương lớn về phát triển văn hóa và du lịch, đặc biệt là định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, việc khai thác giá trị tín ngưỡng và tôn giáo cần được đặt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn.

Lời kết

Để khai thác hiệu quả các giá trị tín ngưỡng và tôn giáo trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch, trước hết cần hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý. Nhà nước cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ngành Văn hóa, Du lịch và các tổ chức tôn giáo nhằm bảo đảm việc khai thác du lịch không làm ảnh hưởng đến tính thiêng và giá trị tâm linh của các không gian tín ngưỡng. Đồng thời, cần xây dựng quy hoạch phát triển du lịch tâm linh gắn với bảo tồn di sản, phát triển hạ tầng và bảo vệ môi trường. Một giải pháp quan trọng khác là phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù dựa trên giá trị tín ngưỡng và tôn giáo như du lịch hành hương, du lịch thiền định, du lịch lễ hội, du lịch nghiên cứu văn hóa - tôn giáo. Bên cạnh đó, cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên và cán bộ quản lý, nhằm giúp họ có đủ kiến thức về lịch sử, văn hóa và tôn giáo để truyền tải đúng giá trị của các điểm đến. Công tác quảng bá du lịch tâm linh Việt Nam ra quốc tế cũng cần được tăng cường, góp phần xây dựng thương hiệu du lịch văn hóa - tâm linh đặc sắc của Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới. Khi được quản lý hiệu quả và phát huy đúng hướng, nguồn lực văn hóa đặc sắc này sẽ góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời lan tỏa các giá trị tín ngưỡng, tôn giáo mang màu sắc Việt Nam ra thế giới./.

TS. Đoàn Mạnh Cương - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Thẻ bài viết: tín ngưỡng , tôn giáo

Nguồn bài viết: https://vietnamtourism.gov.vn/post/67468

x
khach du lich img
Du khách
Đăng ký
Đăng nhập
cty du lich img
Nhà cung cấp dịch vụ
Đăng ký
Đăng nhập

Tiêu chí tham gia Trang vàng
Du lịch Việt Nam

1. Tự nguyện đăng ký tham gia chương trình Du lịch Việt Nam. Tuân thủ Bộ Quy tắc Ứng xử văn minh du lịch do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành QĐ718 – 2017.pdf

2. Thực hiện Chế độ báo cáo thống kê du lịch ban hành theo Thông tư số 18/2021/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

3. Niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ công khai

4. Chấp nhận thanh toán điện tử, giao dịch sử dụng thẻ Thẻ du lịch

5. Cam kết sản phẩm, dịch vụ đảm bảo chất lượng, có chương trình ưu đãi cho khách du lịch

6. Có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, phản ánh của khách du lịch qua ứng dụng Du lịch Việt Nam

x
khach du lich img
Du khách
Thông báo
Mã thẻ của bạn chưa được kích hoạt.
Bạn có muốn kích hoạt mã thẻ?
Hủy
Đồng ý

Thông báo

Thông tin tài khoản không tồn tại. Vui lòng kiểm tra lại thông tin nhập. Nếu thông tin chính xác vui lòng Đăng ký tài khoản

Chưa có Thẻ du lịch?

Quên mật khẩu
Quên mật khẩu

ĐĂNG KÝ THẺ DU LỊCH:

thẻ việt
Tổng đài hỗ trợ người dùng:
x
khach du lich img
Lấy lại mật khẩu

x
ic ctydulich
Nhà cung cấp dịch vụ

captcha image

Nhập mã OTP đã gửi về Số điện thoại/Email đăng ký

Quên mật khẩu
x
x
qr code
x
qr code